Ông TRƯƠNG KHÔI, bút hiệu là KHẢI NGUYÊN, con trai thứ 9 của cụ Trương Đảnh và bà Trần thị Quế, sinh ngày 7/7/1914, tuổi Giáp Dần, thuộc đời thứ 9, phái II, chi 1, tại làng Hóa Tây, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam.
Mặc dù là con của 1 nhà nông đông con ở quê, với 5 anh em trai và 2 chi em gái, ông đã được gia đình chắt chiu cho đi học tại Huế vì sự thông minh và tính hiếu học của ông. Sau khi đậu Primaire ông thi đậu vào trường Ecole Polytechnique [Trung Học Kỷ Thuật] và đổ Diplome tai đây.
Năm 1925, sau khi tốt nghiệp, ông được bổ dụng làm cho sở Lục lộ [Công Chánh] lần lượt tại Cam Ranh, Nha Trang, Kontum và Pleiku.
Năm 1937 ông thành hôn với bà Nguyễn thị Niêm] con của ông bà Nguyễn Mân ở làng Khánh Vân, Đại Lộc, Quảng Nam.
Năm 1945 lúc ông đang làm Trưởng Ty Công Chánh ở Pleiku, quân đội Nhật đảo chính Pháp, tất cả các công sở bị đóng cửa, ông trở về quê sinh sống tại Quảng Huế và hợp tác với chú Lương Bá buôn bán than.
Sau khi Đồng Minh lật đổ Nhật và mang quân Pháp về chiếm cứ Việt Nam, cũng như nhiều người khác, ông thấy được cái dã tâm của thực dân Pháp, ông gia nhập Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội và cùng toàn dân tham gia cuộc kháng chiến chống Pháp tại Liên khu 5. Lần lượt, ông đảm trách Trưởng xưởng giấy tại Phú Gia và Trưởng kho lúa tại Tam Kỳ.
Cuộc đình chiến 1954 mang ông và gia đình trở lại quê nhà Quảng Huế. Ông làm việc văn phòng với 1 số bạn bè ở Đà Nẳng và sau đó cùng chú Trương Thanh mở xưởng cưa bên Xóm Mới.
Cảm mến đức độ, tư cách của Mục sư Nguyễn văn Xuân và sự thúc dục của đấng thiêng liêng, ông và gia đình trở thành tín đồ của Cơ Đốc Phục Lâm vào năm 1957.
Ý thức được cái viễn ảnh của tương lai con cái và tai họa của chiến tranh bắt đầu manh nha tại quê nhà, ông đã mang gia đình vào Saigon sinh sống năm 1960.
Năm 1960, ông làm Thư Báo Truyền Đạo cho Hội Thánh Cơ Đốc Phục Lâm và năm 1965 làm Trưởng phòng Hành Chánh cho nhà máy dệt Sicovina tại Thủ Đức.
Năm 1972, ông cộng tác với anh Lê Đình Tương, con rể họ Trương, làm thầu khoán cho đến năm 1975.
Để đoàn tụ với tất cả con cái đang sinh sống ở Hoa Kỳ, năm 1991, ông định cư tại San Jose, California và an hưởng tuổi già hạnh phúc với vợ con cho đến mãn đời vào năm 2000 hưởng thọ 86 tuổi và để lại 4 trai, 4 gái và 15 cháu nội ngoại.
Cuộc đời của ông phản ảnh 1 người con hiếu thảo với cha mẹ, 1 người chồng trung nghĩa với vợ, 1 người cha tận tụy lo cho con cái. Đối với gia tộc, ông hết lòng lo lắng cho việc tộc: từ việc cúng quảy cũng như từ đường, soạn viết gia phả hay thư từ thông tin qua lại; giúp đở bà con trong mọi trường hợp ngặt nghèo, nâng đở con cháu trong việc học hành cũng như khuyên răn đạo đức. Đối với quốc gia, ông đã góp phần không ít trong công cuộc kháng chiến chống Pháp, làm 1 công dân gương mẫu và xuất sắc trong mọi công việc được giao phó. Ông đã để lại nhiều bài thơ nói lên cái hào khí yêu nước thuơng nòi của 1 kẻ sĩ trong thời tao loạn. Khi lìa trần, ông cũng đã để lại muôn vàn xót xa thương tiếc của con cháu và cho bà con giòng tộc xa gần, cùng sự mến tiếc của bạn bè khắp nơi.